2021-11-30

27. CÁC THUỐC TRỊ COVID KÉM HIỆU QUẢ NHƯNG ĐƯỢC LĂNG XÊ RẦM RỘ

Bài này viết về 3 loại thuốc trị covid được lăng xê rầm rộ nhưng gần như không có hiệu quả là Molnupiravir, Favipiravir và Remdesivir.


--------------------

Cập nhật:

-        Ngày 26/11/2021, nhà sản xuất thuốc là Merck cập nhật hiệu quả thử nghiệm lên trang web của họ, lúc này hiệu quả giảm xuống chỉ còn 30%.

-         Nguyên văn: molnupiravir reduced the risk of hospitalization or death from 9.7% in the placebo group (68/699) to 6.8% (48/709) in the molnupiravir group, for an absolute risk reduction of 3.0% (95% confidence interval [CI]: 0.1, 5.9; nominal p-value=0.0218) and a relative risk reduction of 30% https://www.merck.com/news/merck-and-ridgeback-biotherapeutics-provide-update-on-results-from-move-out-study-of-molnupiravir-an-investigational-oral-antiviral-medicine-in-at-risk-adults-with-mild-to-moderate-covid-19/

-        Cuối tháng 12/2020, Pháp hủy đơn đặt hàng Molnupiravir vì hiệu quả kém: https://www.forbes.com/video/6288202754001/france-cancels-order-for-mercks-anticovid-pill-after-disappointing-trial-results

-        Ngày 05/01/2021, tổng giám đốc Hội đồng Nghiên cứu Y khoa Ấn Độ, ông Balram Bhargava phát biểu công khai rằng Molnupiravir CÓ NHỮNG VẤN ĐỀ RẤT ĐÁNG LO NGẠI VỀ TÍNH AN TOÀN, bao gồm nguy cơ gây quái thai, đột biến gien, tổn thương sụn và cơ. https://economictimes.indiatimes.com/news/india/covid-19-drug-molnupiravir-flagged-for-major-safety-concerns/articleshow/88723154.cms  

-------------------- 


1) Molnupiravir

Molnupiravir đã được đề cập ở bài số 16. CẢNH BÁO VỀ MOLNUPIRAVIR

Trong bài này chỉ nhắc sơ vài ý, người đọc có thể xem chi tiết bài 16 để rõ hơn các vấn đề khuất tất bên trong: https://tthiep-vac.blogspot.com/2021/10/16-canh-bao-ve-molnupiravir.html

Bài viết đã chỉ ra rằng:

-        Số liệu hiệu quả 50% của Molnupiravir chỉ là số liệu tạm thời tính tới thời điểm đó (chưa đầy 2 tháng), và quy mô thử nghiệm là rất nhỏ (1 thử nghiệm giai đoạn 3 với chỉ hơn 700 người tham gia).

-        Molnupiravir vốn là 1 hoạt chất gây đột biến gien, và nghiên cứu thực tế trên động vật đã chứng minh rằng Molnupiravir có khả năng gây đột biến DNA ở động vật có vú, có thể dẫn tới ung thư hay sảy thai và nhiều rủi ro khác.

-        Chính phủ Mỹ đã đặt hàng Molnupiravir từ trước khi thuốc được bắt đầu thử nghiệm giai đoạn 3. Và thuốc được lăng xê ồ ạt kể từ thời điểm đó.

-        Nhà sản xuất thuốc là Merck đã ra giá bán cao hơn khoảng 40 lần so với giá sản xuất.

Đến ngày 26/11/2021, tờ Financial Times đưa tin cho biết chính Merck đã thừa nhận rằng thuốc không hiệu quả như họ từng nói, và số liệu cập nhật cho thấy hiệu quả của thuốc giảm đáng kể, chỉ còn 30%!

Nguồn: https://www.ft.com/content/5991288f-7e62-4de4-9d41-88285d29ee62

Nhà sản xuất thuốc là Merck cũng đăng kết quả này lên trang web của họ. Nguyên văn: molnupiravir reduced the risk of hospitalization or death from 9.7% in the placebo group (68/699) to 6.8% (48/709) in the molnupiravir group, for an absolute risk reduction of 3.0% (95% confidence interval [CI]: 0.1, 5.9; nominal p-value=0.0218) and a relative risk reduction of 30% https://www.merck.com/news/merck-and-ridgeback-biotherapeutics-provide-update-on-results-from-move-out-study-of-molnupiravir-an-investigational-oral-antiviral-medicine-in-at-risk-adults-with-mild-to-moderate-covid-19/

 

2) Favipiravir

Favipiravir vốn là 1 loại thuốc trị cúm, và cũng đã được lăng xê cho việc chữa covid.

Đã có nhiều nghiên cứu cho thấy Favipiravir hoàn toàn hoặc gần như không có hiệu quả điều trị covid:

https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/32958718/

https://www.ijidonline.com/article/S1201-9712(20)32453-X/fulltext

Nghiên cứu mới nhất đưa ra vào tháng 11/2021 cũng xác nhận lại sự vô dụng của Favipiravir: https://www.medrxiv.org/content/10.1101/2021.11.08.21265884v1

 

3) Remdesivir

Trước đó, Remdesivir cũng đã được nói đến trong phần phụ lục 3 của bài số 20. NGHỊ SĨ BANG OREGON CÁO BUỘC FDA, CDC GIAN DỐI VÀ THAO TÚNG SỐ LIỆU COVID-19.

(link: https://xoomato.com/vac-bai20)

Trong khi gạt bỏ các liệu pháp hiệu quả mà rẻ tiền (Vitamin D, Kẽm, Ivermectin, HydroxyChloroquine…) thì Mỹ lại đẩy rất mạnh việc sử dụng Remdesivir.

-        Theo database tổng hợp các nghiên cứu về Remdesivir https://c19rmd.com/, thì Remdesivir có hiệu quả trung bình rất thấp, chỉ khoảng 19%. Nhưng điều đặc biệt là lại có một số nghiên cứu cho thấy Remdesivir không những không hiệu quả, mà còn gây tăng số lượng nhập viện/ tử vong. Điều này cho thấy tác dụng của Remdesivir rất thấp mà tác dụng phụ lại quá cao!

-        Trong khi đó, Remdesivir lại có giá bán quá cao, khoảng 2.000-3.000 đô/ liệu trình!

-        Vào tháng 10/2020, trước khi có đánh giá rõ ràng về hiệu quả của Remdesivir, thì Ủy ban Châu Âu đã đặt mua 500.000 liệu trình Remdesivir với tổng trị giá lên tới 1,2 tỷ đô la Mỹ: https://www.bmj.com/content/371/bmj.m4749

-        Ở Mỹ, FDA cũng duyệt việc dùng Remdesivir từ tháng 10/2020. Và tạp chí Science đã phải có 1 bài báo đặt nghi vấn rất lớn về vấn đề này: https://www.science.org/content/article/very-very-bad-look-remdesivir-first-fda-approved-covid-19-drug

o   Bài báo cho biết rằng FDA đã không hề họp tổ chuyên gia để thảo luận về việc thông qua Remdesivir (như đã làm với vaccine, mà người viết đã có nhắc đến trong bài 19. NGUY CƠ DO VACCINE COVID-19 (2) VÀ THẢM HỌA TOÀN CẦU)

o   Bài báo cũng chỉ ra rằng Ủy ban Châu Âu đã đặt mua Remdesivir từ trước khi có kết quả thử nghiệm!

o   Và sau khi các kết quả có số liệu, thì cho thấy: hiệu quả là cực thấp. 

-        Và đến tháng 11/2020, thì WHO công khai tuyên bố là KHÔNG NÊN DÙNG (recommend against) Remdesivir trị Covid, sau khi xem hết số liệu từ 4 nghiên cứu của Gilead (hãng sản xuất Remdesivir). https://www.who.int/news-room/feature-stories/detail/who-recommends-against-the-use-of-remdesivir-in-covid-19-patients

-        Như vậy, tại sao các nghiên cứu không chứng minh hiệu quả, và thậm chí là nhiều tác dụng phụ nguy hiểm, mà Mỹ và các nước châu Âu vẫn ‘nhanh nhảu’ đặt mua Remdesivir với những hợp đồng khổng lồ?

o   Câu trả lời có thể nằm ở 1 báo cáo độc lập này, cho thấy NIH (cơ quan y tế chính phủ Mỹ) đã tài trợ cho Gilead tới 6,5 tỷ để nghiên cứu Remdesivir trong suốt 20 năm trời (từ năm 2000-2019)https://www.medrxiv.org/content/10.1101/2020.07.01.20144576v1

o   Sự lũng đoạn của các big pharma đã ảnh hưởng đến chính sách của Mỹ và một số nước châu Âu.

 

Kết luận:

-        Cả 3 loại thuốc là Molnupiravir, Favipiravir và Remdesivir dù được lăng xê rầm rộ, nhưng gần như không có hiệu quả trong việc điều trị covid.

-        Người ta nên nhìn kỹ hàng chục, hàng trăm nghiên cứu đã công bố về IVM và HCQ cũng như những nước đã sử dụng những thuốc này rất hiệu quả, thay vì nghe theo truyền thông lăng xê những thứ thuốc đắt tiền mà vô dụng.

 


2021-11-26

26. NGHIÊN CỨU CHO THẤY VACCINE COVID-19 LÀM TĂNG ÍT NHẤT 2,2 LẦN NGUY CƠ BỆNH TIM MẠCH CẤP TÍNH

Một nghiên cứu tên ‘Mrna COVID Vaccines DramaticallyIncrease Endothelial Inflammatory Markers and ACS Risk as Measured by the PULSCardiac Test: a Warning’ đăng trên tạp chí khoa học AHA Journals (thuộc Hiệp hội Tim mạch Mỹ), số 144 ngày 16/11/2021, cho biết:

-        Vaccine Covid-19 sử dụng công nghệ mRNA (Pfizer, Moderna) làm tăng ĐÁNG KỂ nguy cơ mắc bệnh tim mạch cấp tính! Cụ thể là tăng ít nhất 2,2 lần. (25%/ 11% = 2,27)

-        Nhóm nghiên cứu kết luận rằng vaccine mRNA làm tăng ĐÁNG KỂ tình trạng viêm bên trong thành mạch máu và việc xâm nhiễm T-cell vào cơ tim, và có thể là nguyên nhân của việc gia tăng của chứng nghẽn mạch (huyết khối, hay sự đông máu), bệnh cơ tim, và các bệnh tim mạch khác sau khi chích vaccine.

Nguồn: https://www.ahajournals.org/doi/10.1161/circ.144.suppl_1.10712

Nghiên cứu được thực hiện ở người có độ tuổi từ 28 đến 97.


Trước đó, ở bài 17. SỐ LIỆU VỀ HIỆU QUẢ THẬT CỦA VẮC-XIN (4) VÀ NGUY CƠ VIÊM CƠ TIM DO VACCINE, người viết đã có đề cập đến 1 nghiên cứu khác ở người trẻ trong độ tuổi 12-17, có nguy cơ bị viêm cơ tim do vaccine cao gấp 4-6 lần nguy cơ nhập viện vì Covid.

Đương nhiên là con số này là chỉ tính con số báo cáo thống kê trên hệ thống VAERS. Theo một nghiên cứu của Harvard, số trường hợp tác dụng phụ trên thực tế có thể cao gấp 100 lần số trên hệ thống VAERS: https://digital.ahrq.gov/sites/default/files/docs/publication/r18hs017045-lazarus-final-report-2011.pdf

Do đó, nguy cơ viêm cơ tim do vaccine ở trẻ 12-17 tuổi thật ra có thể cao gấp hàng trăm lần nguy cơ nhập viện vì covid.

2021-11-22

25. FDA VÀ CÁC BỆNH VIỆN CHE GIẤU TÁC DỤNG PHỤ DO VACCINE VÀ SỰ SAI LẠC KHI THỐNG KÊ HIỆU QUẢ VACCINE

Bài này tóm tắt nội dung mà một người thổi còi (whistle-blower) làm trong ngành y tế đưa ra: thứ nhất là có số lượng lớn tác dụng phụ sau khi chích vaccine nhưng các bệnh viện không hề báo cáo lên hệ thống ghi nhận tác dụng phụ vaccine - VAERS; thứ hai là, các hệ thống máy tính ghi nhận sai thông tin bệnh nhân đã chích thành chưa chích vaccine, tạo ra sự sai lạc lớn về số liệu thống kê tính hiệu quả và an toàn của vaccine; thứ ba là, thống kê riêng của cô cho thấy tới 85% bệnh nhân nhập viện đã chích đủ vaccine dù thời điểm đó chỉ có 45% dân số chích vaccine.

Video clip của cuộc phỏng vấn ‘Những bệnh nhân này xứng đáng được lắng nghe’:

https://www.youtube.com/watch?v=vIydr2ZqZto

https://rumble.com/vmncez-these-patients-deserve-to-be-heard-vaers-whistleblower.html(xem link này nếu clip youtube bị xóa)

Deborah Conrad, một phụ tá bác sĩ (PA – Physician Assistant, tức là học vị thạc sĩ), làm việc tại bệnh viện United Memorial, New York, đành phải nghỉ việc vì không chích vaccine, do quá sợ hãi những tác dụng phụ của vaccine mà cô gặp phải trong quá trình làm việc ở bệnh viện. Trong 1 buổi phỏng vấn vào tháng 9/2021, cô cho biết như sau:

-        Từ tháng 2/2021 (việc chích vaccine bắt đầu từ cuối tháng 12/2020) cô và các đồng nghiệp bắt đầu nhận thấy có sự tăng đột biến về số ca đau tim, đột quỵ, khối đông máu, xuất huyết dạ dày, ung thư…

-        Sau khi tìm hiểu, cô mới biết về hệ thống báo cáo tác dụng phụ do vaccine VAERS (từ Internet…), và cho biết rằng mặc dù luật pháp ghi rằng các bệnh viện phải báo cáo tác dụng phụ sau khi chích vaccine, nhưng chính cô đã làm trong ngành y 17 năm và không hề biết đến hệ thống này. Cô cho rằng hầu hết nhân viên y tế (bác sĩ, y tá…) cũng không biết về việc này (có thể là trừ các bác sĩ nhi khoa). Và ngay cả khi vaccine được triển khai chích rộng rãi, cũng KHÔNG CÓ những thông báo, chỉ dẫnnào (từ các cơ quan chức năng như CDC, FDA…) để đảm bảo các bệnh viện biết và báo cáo lên hệ thống.

-        Cô thậm chí đã gửi email đến FDA về chuyện nay nhưng KHÔNG ĐƯỢC TRẢ LỜI, sau đó liên lạc Sở Y tế tiểu bang thì họ cũng KHÔNG LÀM GÌ CẢ. (ghi chú: điều này tương tự sự việc xảy ra trong bài điều tra của tạp chí khoa học danh tiếng The BMJ về việc gian dối số liệu của Pfizer, trong đó FDA đã lờ đi khi có người báo cáo về những sai phạm trong cuộc thử nghiệm vaccine của Pfizer: https://www.bmj.com/content/375/bmj.n2635)

-        Cô nói: làm sao chúng ta xác quyết được vaccine hiệu quả và an toàn, khi không có ai báo cáo các tác dụng phụ đang xảy ra trên thực tế?

-        Tiếp tục tìm hiểu, cô mới biết rằng việc báo cáo lên hệ thống khá phức tạp, và hiếm có bệnh nhân nào có thể tự báo cáo được vì có rất nhiều thông tin mà họ sẽ không biết. Họ sẽ phải báo cho bác sĩ mới có thể điền thông tin được. Và sau đó, VAERS sẽ liên lạc lại để kiểm tra thông tin, sau khi kiểm tra thì mới đưa lên hệ thống. Vì vậy, việc báo cáo và thống kê lên VAERS rất mất thời gian, và có được kiểm tra (hoàn toàn không phải ai cũng có thể bịa ra và nhập thông tin lên hệ thống như các báo thân vaccine Mỹ tuyên bố), và hệ thống này đã hoạt động suốt 30 năm (từ 1990), chứ không phải đến khi có Covid mới có.

-        Sau khi biết về VAERS, và thấy rằng trước đó ở bệnh viện KHÔNG CÓ AI THỰC HIỆN VIỆC BÁO CÁOtheo quy định (đây là 1 lý do khiến số lượng tác dụng phụ của vaccine nói chung trên thực tế có thể nhiều gấp 100 lần số báo cáo trên hệ thống, theo 1 nghiên cứu của Harvard), cô đã đi gặp cấp trên của mình, và nói rằng cần phải lập quy trình thực hiện việc báo cáo phản ứng phụ này. Và, vì mọi người đều bận (với việc chích vaccine quy mô lớn) hoặc không muốn thực hiện hoặc không muốn tin vaccine có thể gây sự cố (có những người còn chế nhạo và cho rằng cô đang lãng phí thời gian), cô đã tình nguyện làm việc này.

-        Cô cũng gửi email cho cấp trên cũng như các nhân viên khác về vấn đề này. Cấp trên của cô tỏ ra không vui vì điều này, và gọi điện cho cô. Trong cuộc điện thoại, họ nói rằng điều cô đã gửi mail cho mọi người (về việc kêu gọi tuân thủ pháp luật và báo cáo đầy đủ các tác dụng phụ của vaccine lên hệ thống VAERS) có vẻ là ‘anti-vaccine’ (chống vaccine), và rằng là một tổ chức làm theo hướng dẫn của CDC, họ phải lái bệnh nhân theo hướng chích vaccine và làm giảm sự lo ngại về vaccine!  

-        Sự khác biệt giữa vaccine covid và các vaccine như cúm, viêm phổi… là các vaccine cúm, viêm phổi… đã trải qua thử nghiệm đầy đủ, còn vaccine covid thì không, và vì lý do đó mà chúng ta mới cần phải báo cáo các tác dụng phụ. Nhiều người thậm chí phải nhập viện đến 4-5 lần vì các tác dụng phụ của vaccine.  (ghi chú: đây chính là thử nghiệm giai đoạn 4 trong 4 giai đoạn thử nghiệm của vaccine; do đó nhiều người nói rằng vaccine hiện nay là một cuộc thử nghiệm toàn cầu, và điều đó không sai).

-        Vì những lý do trên, cô đã cố gắng ghi chú các ca chích vaccine. Vào 1 ngày trong tháng 7/2021, nhóm của cô có 35 ca nhập viện, trong đó 30 người đã chích vaccine đầy đủ (85%). Có 7/7 bệnh nhân (100%) trong phòng chăm sóc đặc biệt (ICU) đều đã chích vaccine. Trong khi tại thời điểm đó khu vực chỉ có khoảng 45-46% người đã chích vaccine!

-        Có khoảng 9 bệnh nhân được ghi là chưa chích vaccine, nhưng khi cô kiểm tra lại và nói chuyện với bệnh nhân, thì thực ra họ đã chích vaccine. (ghi chú: tỉ lệ sai là 100%!)

-        Cô giải thích rằng: khi nhập viện KHÔNG CÓ YÊU CẦU HỎI VỀ VIỆC CHÍCH VACCINE chưa; hệ thống được thiết lập rằng nếu có thông tin bệnh nhân đã chích vaccine trong bệnh viện hay phòng khám thuộc hệ thống thì hệ thống mới ghi nhận là đã chích; nếu bệnh nhân chích vaccine ở nơi khác, thì HỆ THỐNG SẼ TỰ ĐỘNG GHI LÀ CHƯA CHÍCH VACCINE trừ khi người ta chủ động hỏi và nhậpnó vào.

-        Những gì cô thấy khiến cô sợ hãi, và cô sợ vaccine này hơn là covid (ghi chú: trước dịch covid, cô vẫn tin vào vaccine và cô và gia đình đều chích các vaccine khác; vì vậy, cô không phải chống vaccine nói chung, mà đây là vấn đề của riêng vaccine covid). Vì sợ hãi với những gì đã nhìn thấy, cô sẽ không chích vaccine mà sẽ nghỉ việc vào cuối tháng 9/2021 (vì lệnh ép chích vaccine của chính phủ Mỹ áp dụng đối với các nhân viên y tế).

 

Vào tháng 10/2021, cô có 1 cuộc gặp gỡ và hỏi đáp với những người quan tâm đến vấn đề này. Tham khảo thêm: https://vimeo.com/627503081

2021-11-18

24. SỰ DỐI TRÁ VÀ MÁNH KHÓE CỦA TRUYỀN THÔNG THÂN VACCINE MỸ

Bài này viết về sự dối trá và một số mánh khóe của truyền thông thân vaccine ở Mỹ. (ở các bài trước đã có nói về sự dối trá của WHO và FDA, CDC…). Một vài mánh khóe mà truyền thông thân vaccine Mỹ sử dụng gồm có:

1) Tự viết bài và gắn nhãn “fact-check” (kiểm tra sự thật) cho bài viết của mình. (trong khi lại viết không đúng sự thật)

2) Bôi nhọ danh dự (của những nhà khoa học uy tín đã lên tiếng cảnh báo về vaccine). Đây là lối ngụy biện công kích cá nhân phổ biến.

3) Không sử dụng dẫn chứng là những nghiên cứu khoa học cụ thể, mà lại dùng những nguồn mơ hồ (như “các chuyên gia cho biết”, “giới khoa học cho rằng”…) hoặc có tính chất cá nhân (như “chuyên gia X nói rằng”, “tổ chức Y nói rằng”…).

4) Các thủ đoạn chụp mũ ‘anti-vaxxer’ hoặc ‘có động cơ chính trị’.

Đây là 1 bài báo sẽ được dùng để minh họa cho các mánh khóe của truyền thông thân vaccine Mỹ: https://factcheck.afp.com/mass-covid-19-vaccination-will-not-lead-out-control-variants

1) Tự viết bài và gắn nhãn “fact-check” (kiểm tra sự thật) cho bài viết của mình

-        Vấn đề rất đơn giản: AFP là 1 tờ báo, cho nên những gì mà được viết trên afp.com đều là bài báo, và được viết bởi những nhà báo làm việc cho AFP. Rất nhiều vấn đề khoa học hoàn toàn nằm ngoài chuyên môn của những nhà báo này.

-        Việc gắn cái mác “fact-check” (kiểm tra sự thật) chỉ là sự ‘nhận vơ’, tự cho mình đúng, chứ không có nghĩa những gì được viết là đúng.

-        Người ta nói “cái áo không làm nên thầy tu”. Phần dưới sẽ chứng minh sự dối trá của các “fact-check” của truyền thông thân vaccine.

 

2) Thủ đoạn bôi nhọ danh dự - thuật ngụy biện công kích cá nhân:

-        AFP dùng những chữ “tự nhận” (self-described) khi nói về Ts. Vanden Bossche, 1 tiến sĩ, nhà virus học và chuyên gia vaccine.

o   Trên thực tế, AFP tự nhận mình “kiểm tra sự thật”, tại sao không có khả năng kiểm tra Bossche có đúng là nhà virus học và chuyên gia vaccine không, mà phải ghi chữ “tự nhận” ở đây?

o   Việc kiểm tra rất dễ dàng, dựa trên CV của Bossche  và đối chiếu lại với những cơ quan mà Bossche đã làm việc.

o   CV: https://37b32f5a-6ed9-4d6d-b3e1-5ec648ad9ed9.filesusr.com/ugd/28d8fe_9bb701b3fd734d7895bc9b502752684f.pdf

-        Trên thực tế, AFP cũng đã làm chuyện này, và ở cuối bài có 1 phần là “Vanden Bossche’s credentials”, tức là “Độ tin cậy của Vanden Bossche”.

o   Kết quả là AFP đã tự xác định được là Vanden Bossche thực sự từng giữ những vị trí quan trọng ở những cơ quan y tế có tiếng, như: Trưởng phòng phát triển vaccine của Trung tâm Nghiên cứu Truyền nhiễm Đức, Giám đốc toàn cầu dự án vaccine cúm của Solvay Biologicals, Quản lý chương trình vaccine Ebola của Liên minh Toàn cầu về Vaccine và Truyền nhiễm…

o   AFP đã hết sức cố gắng kiểm tra xem Vanden Bossche có gian dối về CV của mình không, cuối cùng phát hiện là không. Vậy tại sao vẫn ghi chữ “tự nhận”? Dĩ nhiên là 1 loại thủ đoạn khiến cho người đọc nghi ngờ ông.

-        Rồi AFP nói rằng Ts Vanden Bossche không có 1 nghiên cứu học thuật nào được công bố, kể từ năm 1995.

o   Trước khi đọc bài báo của AFP, người viết từng đọc một nghiên cứu của Vanden Bossche, với tựa đề ‘Re-thinking Vaccinology: “Act Universally, Think NK Cells”’, công bố năm 2017: https://www.researchgate.net/publication/330569895_Re-thinking_Vaccinology_Act_Universally_think_NK_Cells

o   Như vậy, có thể khẳng định: AFP nói láo trắng trợn.

o   Các báo thân vaccine vẫn thường nói láo trắng trợn như vầy, trong những bài báo có cái mác “fact-check” (“kiểm tra sự thật”).

-        Trong những bài viết trước, như bài số 15. CÁC CẢNH BÁO VỀ VACCINE (1) và 18. CÁC CẢNH BÁO VỀ VACCINE COVID-19 (2), người viết đã có đề cập và chứng minh rằng Peter McCullough, Paul MarikRobert Malone đều là những nhà khoa học hàng đầu thế giới trong lĩnh vực của mình, và rất có uy tín. Tuy vậy, vì lên tiếng cảnh báo (không chỉ về vaccine mà còn về thuốc điều trị covid), nên đã bị truyền thông thân vaccine bôi nhọ tương tự như trường hợp của Geert Vanden Bossche ở trên. Và còn rất nhiều trường hợp khác nữa.

-        Đây là thủ thuật (thủ đoạn) ‘ngụy biện công kích cá nhân’.

 

3) Không sử dụng dẫn chứng là những nghiên cứu khoa học cụ thể, mà lại dùng những nguồn mơ hồ hoặc có tính chất cá nhân

-        Người đọc để ý 1 chút sẽ dễ dàng nhận thấy vấn đề này trong bài báo của AFP: AFP trích dẫn hàng chục ý kiến của chuyên gia này, chuyên gia nọ để bác bẻ những vấn đề mà Vanden Bossche đưa ra, thay vì đưa ra trích dẫn cụ thể từ các nghiên cứu khoa học.

o   Thực ra cũng có đưa ra 1, 2 nghiên cứu, nhưng là nghiên cứu sai mang tính “cherry-picking”, có nghĩa là vớ được cái nghiên cứu nào ủng hộ quan điểm của mình thì nêu ra, còn cái nào không thì giấu nhẹm.

o   Ví dụ như AFP đưa ra 1 cái nghiên cứu ở Israel cho biết vaccine có hiệu quả cao. Sau này ai cũng biết là chính Bộ trưởng Israel đứng ra tuyên bố là vaccine chỉ có hiệu quả 39% với Delta (con số này sau đó còn sụt giảm thêm).

-        Đầu tiên, có thể nói là các phát biểu này của các chuyên gia đều mang tính chất cá nhân và chủ quan, tức là đúng hay sai gì, họ cũng không phải chịu trách nhiệm nào (trừ chính tòa án lương tâm), bởi vì đó là quyền tự do ngôn luận của họ. Nhưng chỉ cần đọc kỹ, sẽ thấy rất nhiều chỗ sai trong những phát biểu của các ‘chuyên gia’ này.

-        1 trong những phát biểu của Ts Vanden Bossche được AFP đưa ra và cố gắng chứng minh sai, đó là “Không nghi ngờ gì việc thiếu tiếp xúc (mầm bệnh) do sự phong tỏa gắt gao đầu mùa dịch không có lợi cho việc giữ hệ miễn dịch bẩm sinh của người ta duy trì được sự rèn luyện hiệu quả.” (nguyên văn: “There can be no doubt that lack of exposure due to stringent containment measures implemented as of the beginning of the pandemic has not been beneficial to keeping people’s innate immune system well There can be no doubt that lack of exposure due to stringent containment measures implemented as of the beginning of the pandemic has not been beneficial to keeping people’s innate immune system well trained”)

o   AFP đưa ra 1 chuyên gia tên Wherry và 1 chuyên gia tên Grove, và cho biết 2 ông này nói rằng điều này là hoàn toàn sai, và không có bằng chứng nào cho thấy điều đó.

o   Cách nói chuyện của các “chuyên gia” của truyền thông thân vaccine là hết sức ngớ ngẩn. Bởi lẽ nếu thật sự “không có bằng chứng” chứng minh hoặc phủ nhận 1 vấn đề, thì 1 nhà khoa học phải nói là “tôi không biết”, chứ không phải nói là “điều này sai, vì không có bằng chứng”.

o   Và “chuyên gia” Wherry thậm chí còn nói thêm rằng “Giống như một thiết bị báo khói, được tạo ra để phát hiện khói, hệ miễn dịch bẩm sinh đã được tạo ra để phát hiện virus và không cần rèn luyện”!

o   Trên thực tế, lại có nhiều nghiên cứu cho thấy điều Ts Bossche nói là đúng, và cả 2 điều mà Wherry và Grove nói là SAI. Ví dụ nghiên cứu có tên ‘Exposome and Immunity Training: How Pathogen Exposure Order Influences Innate Immune Cell Lineage Commitment and Function’: https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC7697998/, có rất nhiều trích dẫn từ các nguồn nghiên cứu khác nhau nói về vấn đề này.

o   Trích dẫn: “…a growing body of clinical and experimental evidence argues the innate immune system develops memory as a result of previous exposures, allowing the innate system to respond with enhanced and broad immunological protection upon exposure to a secondary stimulus [1,2]. This biological process of enhanced innate immunity response on secondary pathogen exposure has been termed “trained immunity””. Ý này hoàn toàn giống những gì Ts Bossche đã nói: việc tiếp xúc (ở mức độ nhất định) với mầm bệnh khiến hệ miễn dịch bẩm sinh được rèn luyện và hoạt động hiệu quả hơn.

o   Chỉ với 1 nghiên cứu trên, đủ để gạt bỏ hoàn toàn những gì 2 “chuyên gia” của AFP đã phát biểu.

o   Ở Việt Nam có 1 câu nói nửa đùa, mà lại nửa thật (chứa đựng một phần sự thật trong đó), đó là: “ở dơ sống lâu”.

-        1 phát biểu khác của Ts Bossche được AFP “chứng minh” là sai, đó là “Kháng thể chuyên biệt tạo ra bởi vaccine Covid-19 có hạn chế và không tồn tại lâu”. Nguyên văn: “the increase in “S (spike) specific” antibodies, which can be  generated by Covid-19 infection or vaccines, is “rather limited and only short-lived.””

o   Cũng như trên, 2 “chuyên gia” Wherry và Grove lại kẻ hô người ứng nói rằng “Điều này là sai”, và “các kháng thể có vẻ bền vững, TỐI THIỂU là từ 1 tới 3 năm”.

o   Người đọc chỉ cần tỉnh táo một chút, sẽ thấy rằng bài báo của AFP ghi ngày 01/4/2021. Trong khi đó các vaccine covid-19 đều bước vào thử nghiệm giai đoạn 3 từ tháng 8/2020, có nghĩa là chưa tới 1 năm. Vậy mà ta lại có những “nhà khoa học” dám tuyên bố là “tối thiểu là từ 1 đến 3 năm”!!!

o   Ngày nay (tháng 11/2021), người viết nghĩ rằng ai cũng biết câu chuyện là kháng thể do vaccine tạo ra gần như cạn sạch sau khoảng 6-9 tháng, cho nên mới có việc ở Israel và Mỹ lại phải nườm nượp đi chích mũi 3. Trong khi đó thì kháng thể tạo ra do nhiễm bệnh tự nhiên thì lại giảm rất ít cho nên có sự bảo vệ rất lâu dài. Một nghiên cứu có tựa đề ‘Large-scale study of antibody titer decay following BNT162b2 mRNA vaccine or SARS-CoV-2 infection’ đã đo đạc rõ ràng chứng minh vấn đề này: https://www.medrxiv.org/content/10.1101/2021.08.19.21262111v1.full

o   Nguyên văn: “In vaccinated subjects, antibody titers decreased by up to 40% each subsequent month while in convalescents they decreased by less than 5% per month.” (kháng thể ở người chích vaccine giảm tới 40% cứ sau mỗi tháng, còn kháng thể ở người nhiễm bệnh tự nhiên thì giảm ít hơn 5% mỗi kháng)

-        Một loại nguồn dẫn khác của AFP là CDC, WHO…

o   Những tổ chức như CDC, WHO… cũng chỉ là tập hợp của những cá nhân, như vậy, phát biểu của họ cũng chỉ mang tính chất chủ quan, và hoàn toàn có thể sai lạc như các ‘chuyên gia’ Wherry, Grove… ở trên.

o   Trong bài 20. NGHỊ SĨ BANG OREGON CÁO BUỘC FDA, CDC GIAN DỐI VÀ THAO TÚNG SỐ LIỆU COVID-19, người viết đã cho thấy chính FDA, CDC đang bị kiện vì gian dối và thao túng số liệu về dịch covid, và chỉ ra những chỗ sai cụ thể.

o   Sự gian dối của WHO thì được viết trong bài 22. SỰ GIAN DỐI CỦA WHO TRONG ĐẠI DỊCH.

-        Kết luận ở phần 3 này là: tuyệt đối không nên tin các “chuyên gia” cũng như “tổ chức” mà các kênh truyền thông thân vaccine ở Mỹ đưa ra, bởi vì mấy anh này nói sai ‘tùm lum tùm la’, và không có chỗ nào đáng tin!

-        Những thủ đoạn công kích cá nhân cũng như trích dẫn chuyên gia, tổ chức (nói sai be bét) của cánh truyền thông thân vaccine Mỹ chỉ thể hiện được sự dối trá và là những thủ thuật không có giá trị.

 

4) Các thủ đoạn chụp mũ ‘anti-vaxxer’ hoặc ‘có động cơ chính trị’:

Những nhà khoa học như Peter McCullough, Robert Malone, Geert Vanden Bossche… đều bị chụp cái mũ ‘anti-vaxxer’ (chống vaccine) chỉ vì lên tiếng cảnh báo các vấn đề một cách khoa học.

-        Trên thực tế, họ đều là những bác sĩ, nhà nghiên cứu lâu năm, và không có 1 người nào chống vaccine 1 cách chung chung cả, mà họ chỉ đang nói về 1 nhóm vaccine cụ thể, đó là vaccine covid-19, vì vaccine này được làm ra trong thời gian quá ngắn (khoảng 6-8 tháng), trong khi các vaccine trước đây đều trải qua quá trình thử nghiệm kéo dài hàng chục năm!

-        Và đặc biệt là Ts Vanden Bossche đã làm công việc về nghiên cứu, phát triển vaccine suốt sự nghiệp hàng chục năm của mình (xem lại phần 2 của bài này). Như vậy, việc chụp mũ ông cũng như những nhà khoa học khác là ‘anti-vaxxer’ đều là dối trá, và là thủ thuật ngụy biện công kích cá nhân.

Một thủ đoạn khác là gắn các mác ‘có ý đồ chính trị’ cho những cảnh báo, phân tích về vaccine và covid.

-        Ví dụ như bài báo sau đây của CNN: https://edition.cnn.com/2021/07/19/politics/coronavirus-misinformation-joe-biden-facebook-trump/index.html, cho rằng những người có tư tưởng nghiêng về đảng Cộng hòa đã cổ xúy hoặc thậm chí tung tin giả về covid/ vaccine, và làm điều này vì ‘lý do chính trị’.

-        Hoặc một bài báo khác của CNBC, thậm chí còn trích dẫn lời nói ám chỉ rằng các thẩm phán sẽ phân định vấn đề dựa theo khuynh hướng thân với đảng phái chính trị nào! https://www.cnbc.com/2021/11/16/biden-vaccine-mandate-legal-battle-heads-to-federal-appeals-court-with-gop-appointed-majority.html

o   Phát biểu này thể hiện sự vô cùng xem thường hệ thống tư pháp Mỹ, và cho rằng các thẩm phán không có tính khách quan và biết phân biệt đúng sai, mà lại phân xử vấn đề theo lợi ích phe nhóm!

-        Trên thực tế, các tờ báo này lợi dụng sự khác biệt về đảng chính trị, và chụp cái mũ cho đảng Cộng hòa rằng họ lên tiếng chỉ vì động cơ chính trị và muốn chống phá đảng Dân chủ đang cầm quyền.

o   Ai có đọc tin tức thời sự đều biết rằng ở Mỹ có sự chia rẽ trong sự nhận định về vaccine ở đảng Dân chủ và đảng Cộng hòa. Nhưng điều đó không hề có ở các nước khác như Anh và Úc…

o   Ở Anh và Úc (cũng như nhiều nước khác), các đảng lớn đều ủng hộ vaccine, và có tiếng nói tương đối thống nhất về vaccine. Nhưng ở những nơi này vẫn có những tiếng nói cảnh báo về vaccine, từ nhiều nơi khác nhau: nhà khoa học, bác sĩ, nhà báo, doanh nhân… và những tiếng nói cảnh báo đều có luận chứng, luận cứ về khoa học để chứng minh cho luận điểm của mình.

o   Điều này chứng tỏ: sự cảnh báo về covid/ vaccine đến từ lý do KHOA HỌC, chứ không phải ‘động cơ chính trị’ nào như các kênh truyền thông thân vaccine ở Mỹ chụp mũ cả.

o   Một nghị sĩ Mỹ là Rand Paul phản đối việc bắt buộc chích vaccine cho cả người đã từng nhiễm và khỏi bệnh, bất chấp họ đã có miễn dịch tự nhiên (và miễn dịch này là hiệu quả và bền vững hơn miễn dịch do vaccine). Điều này rõ ràng là một luận điểm mang tính khoa học, làm gì có tính chất chính trị hay đảng phái nào ở đây?

-        Tóm lại: các kênh truyền thông Mỹ chơi trò bẻ cong sự thật, và xuyên tạc những tiếng nói cảnh báo vaccine là có động cơ chính trị.

 

Kinh Kalama:

Trong kinh Kalama (thuộc Tăng chi bộ kinh) của Phật giáo, có thuật lại lời Đức Phật giảng như sau:

“Này các Kàlàmà, chớ có tin nghe báo cáo, chớ có tin vì nghe truyền thuyết; chớ có tin vì theo truyền thống; chớ có tin vì được kinh điển truyền tụng; chớ có tin vì lý luận suy diễn; chớ có tin vì diễn giải tương tự; chớ có tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện; chớ có tin vì phù hợp với định kiến; chớ có tin vì phát xuất từ nơi có uy quyền, chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc đạo sư của mình.”

https://thuvienhoasen.org/a10788/kinh-kalama-anh-viet

Những lời này dạy người ta phải biết tự suy nghĩ và nhận định vấn đề một cách kỹ lưỡng.

Việc áp dụng lời Đức Phật nói vào chủ đề này như sau:

-        Chớ có tin vì ngheo báo cáo: không nên tin chỉ vì có những cơ quan như Pfizer, WHO, FDA, CDC… báo cáo rằng vaccine hiệu quả tốt.

-        Chớ có tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện: không nên tin chỉ vì một số dữ liệu cho thấy hiệu quả. Có rất nhiều vấn đề cần phải làm rõ ở đây: dữ liệu có trung thực không? dữ liệu có bị bóp méo, lập lờ không? việc phân tích dữ liệu có đúng không?...

-        Chớ có tin vì theo truyền thống/ vì phù hợp với định kiến: không nên tin chỉ vì truyền thống và định kiến cho rằng vaccine hiệu quả.

-        Chớ có tin vì suy diễn/ diễn giải tương tự: không nên tin chỉ vì một số vaccine trong quá khứ có hiệu quả, mà cho rằng vaccine covid cũng hiệu quả và an toàn. Nên nhớ rằng các vaccine trong quá khứ trải qua hàng chục năm nghiên cứu thử nghiệm, còn vaccine covid là 6-8 tháng.

-        Chớ có tin vì phát xuất từ nơi có uy quyền: không nên tin chỉ vì có các kênh truyền thông, hay các “chuyên gia”, hay “nơi có uy quyền” (như WHO, FDA… đã được chứng minh là dối trá, ở những bài trước).

Lời Đức Phật dạy quả là có giá trị vượt thời gian.


 

Bài viết gần đây nhất:

TRÁI ĐẤT TRÒN (1): SAO BẮC CỰC, CHÒM SAO BẮC ĐẨU, CHÒM SAO CHỮ THẬP

Lời nói đầu: Loạt bài viết này dành cho những độc giả muốn tìm hiểu vấn đề. Đối với những người không muốn làm rõ vấn đề mà cứ khăng khăng t...

Những bài viết được xem nhiều: